Có thể nói ngành Khoa học Xã hội – Nhân văn (KHXH-NV) ở nước ta chưa bao giờ mất giá trầm trọng như ngày nay. Tình trạng này đã manh nha từ lâu và thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau. Xu hướng chọn ngành học trong các kỳ tuyển sinh vào đại học đã nói lên được phần nào vị thế của KHXH-NV trong xã hội. Kỳ thi tuyển sinh năm 2012 có hơn 1,8 triệu lượt hồ sơ đăng ký dự thi đại học trên cả nước, nhưng chỉ có hơn 80 nghìn hồ sơ đăng ký vào ngành khoa học xã hội (tức 4,43%). So với năm 2011 thì nhóm ngành này đã giảm đến gần 8% (Hiếu Nguyễn, 2012, tài liệu trên mạng).
Nhưng phải đến khi có các sự kiện xã hội nổi bật như kết quả thi tuyển vào đại học quá kém, hoặc báo chí công bố vị trí của hoạt động khoa học Việt Nam trong các bảng xếp hạng thế giới, thì dư luận mới lên tiếng báo động mạnh mẽ. Điểm lại sơ lược một số nhận xét, ta có thể thấy trên bình diện vĩ mô, có một sự mất cân đối trong đầu tư giữa KHKT và KHXH-NV, như nhận xét sau đây của Phạm Bích San:
Chúng ta đã tập trung vào phát triển khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và không quan tâm đầy đủ đến các ngành khoa học xã hội hiện đại như kinh tế học, xã hội học, luật học và nhiều chuyên ngành khác cần cho việc tổ chức và xây dựng một xã hội hiện đại (Phạm Bich San, 2012, tài liệu trên mạng).
Đối với những nghiên cứu đã cho ra kết quả được cộng đồng khoa học kiểm chứng thì việc triển khai vào thực tế lại chậm chạp, phải đợi đèn xanh của lãnh đạo cấp cao, như trường hợp ngành sử học:
Có những vấn đề rất lớn của lịch sử, sai rõ ràng, các hội thảo khoa học chuyên ngành đã chỉ ra nhiều lần, nhưng vẫn chưa được bật đèn xanh để chính thức sửa trong sách giáo khoa. (Đinh Xuân Lâm, 2011, tài liệu trên mạng).
Thậm chí có cả khuynh hướng coi thường kiến thức KHXH-NV: khi xây dựng chính sách, dự án lớn liên quan đến ngành khoa học xã hội, giới chức trách không hề tham vấn các nhà chuyên môn. Phát biểu sau đây của một lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đủ nói lên khuynh hướng lệch lạc đó:
...để làm các dự án thủy điện, hay quy hoạch vì các mục đích khác nhau phải thực hiện việc di dời dân, nhưng lại không tính đến văn hóa, tập quán sản xuất. Hậu quả là đến nơi ở mới, người dân không có đất sản xuất. Việc tổ chức định cư, sinh sống cho họ lại không phù hợp với truyền thống của họ… Hậu quả, người dân không thể định cư ở vùng đất mới như đã được “quy hoạch” cho họ, họ phải tự di dời đi nơi khác để tìm kế sinh nhai và kéo theo nhiều hệ lụy khác. Có tình trạng này một phần là do các nhà khoa học xã hội am hiểu vấn đề thì lại không được mời tham gia cùng nghiên cứu, hoạch định chính sách (Thái Ngọc, 2010, tài liệu trên mạng).
Thêm vào đó, môi trường văn hóa xã hội hiện nay lại tạo ra nhiều bất cập cho KHXH-NV, khiến ngành nghiên cứu này trong một chừng mực nào đó bị vô hiệu hóa, vì phải phục vụ cho những mục đích phi khoa học, như phát biểu của GS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong một cuộc hội thảo:
Khoa học xã hội và nhân văn đang bị áp đặt. Nghiên cứu là để chỉ ra cái sai, cái chưa hoàn thiện, cần làm sáng tỏ, chứ không phải nghiên cứu là để... khen nhau! Nhiều cơ quan quản lý chưa tin dùng kết quả nghiên cứu, xem việc nghiên cứu khoa học xã hội như vật để trang trí (Thái Ngọc, 2010, tài liệu trên mạng)
Hoặc như ghi nhận của một nhà báo trong hội thảo bàn về phương án sắp xếp lại hệ thống các tổ chức nghiên cứu và đào tạo KHXH-NV được Bộ KH-CN tổ chức vào ngày 12/8/2010 tại TP.HCM:
Không ít nhà khoa học đã can đảm nhận xét: KHXH-NV hiện nay chỉ là minh họa cho chủ trương, chính sách của nhà nước chứ chưa làm mới, làm rõ được vấn đề gì, nhiều đề tài nghiên cứu thuộc loại vô thưởng vô phạt (Thái Ngọc, 2010, tài liệu trên mạng).
Theo nhận xét của một nhà khoa học có thâm niên nghiên cứu và có thẩm quyền, có thực trạng đáng buồn là thế hệ các nhà khoa học trưởng thành trong chiến tranh thì lại cho ra những công trình có chất lượng hơn thế hệ hiện nay, là thế hệ được hưởng nhiều điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu khoa học: ngành Khoa học xã hội của chúng tôi, tồn tại một nghịch lý là những công trình khoa học giá trị, để lại nhiều dấu ấn thì được sản sinh ra vào những năm 60-70 khi chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt, đời sống vật chất khổ cực, điều kiện nghiên cứu thiếu thốn. [ngày nay] đã không có dữ liệu mới, phát hiện mới, nhiều khi, các nhà khoa học lại không dám nói thẳng, nói thật (Nguyễn văn Huy, 2012, tài liệu trên mạng).
Hệ quả là sản phẩm của ngành KHXH-NV thì nhiều, nhưng chất lượng thì chông chênh, không tạo nên uy tín khoa học trong xã hội, không vươn ra được thế giới mà chỉ quanh quẩn trong cái ao làng Việt Nam. Nhận xét sau đây của tác giả Phạm Duy Hiển là xác đáng: Các ngành xã hội nhân văn chiếm ba phần tư số ấn phẩm khoa học nội địa hầu như không có mặt trên các tạp chí quốc tế. Các kết quả nghiên cứu này đúng sai đến đâu, rất khó biết. Trong nhiều thập kỷ gần đây diện mạo khoa học xã hội nhân văn trên thế giới đã thay đổi hoàn toàn nhờ có sự xâm nhập của toán học và các khoa học tự nhiên. Nhiều hướng nghiên cứu đa ngành xuất hiện, khoa học tự nhiên và xã hội đan xen nhau, không thấy đâu phân chia riêng rẽ như ở ta. Khoa học xã hội nhân văn của ta đang lạc lõng khỏi thế giới (Phạm Duy Hiển, 2012, tài liệu trên mạng).
Tình trạng tự cô lập của KHXH-NV Việt Nam một phần là do các nhà nghiên cứu còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, nên không tiếp cận được các khuynh hướng và phương pháp nghiên cứu của thế giới, cũng không đưa kết quả nghiên cứu của mình ra khỏi lãnh thổ để cọ xát, kiểm nghiệm. Cụ thể hơn, để giải thích cho tình trạng tự cung tự cấp của KHXH-NV nước ta, Nguyễn văn Tuấn cho rằng ngành này còn thiếu về phương pháp khoa học trong nghiên cứu, trong đó có phương pháp thống kê, khiến chất lượng nghiên cứu còn hạn chế: Có thể nói rằng phần lớn những nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam chưa tận dụng những phương pháp khoa học (scientific method) và phương pháp thống kê trong việc thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu và diễn giải dữ liệu [...]. Những thiếu sót về phương pháp dẫn đến chất lượng nghiên cứu chưa được cao và hệ quả là nhiều công trình khó có cơ hội để được công bố trên các Tạp chí Khoa học xã hội quốc tế (Nguyễn văn Tuấn, 2011b, tài liệu trên mạng).
Vậy phương pháp khoa học là gì? Thế nào là tính khoa học trong KHXH-NV? Đó là vấn đề then chốt cần làm sáng tỏ để từng bước nâng cao chất lượng nghiên cứu KHXH-NV, góp phần cải thiện địa vị của khoa học nước nhà trên trường quốc tế.
0 Nhận xét