Từ lâu, khi nói đến khoa học, người ta thường nghĩ đến các ngành thuộc lĩnh vực khoa học – kỹ thuật. Tình trạng này không chỉ xảy ra ở nước ta, mà có lẽ trên khắp thế giới đều như vậy. Trong World Social Science Report của UNESCO năm 1999, hai đồng chủ biên tài liệu này nhận xét như sau:
khoa học xã hội
Theo cách hiểu của công chúng, thuật ngữ “science” thường được đồng hóa với các ngành khoa học tự nhiên. Từ đó, xuất hiện nhiều câu hỏi dai dẳng về ý nghĩa của khoa học xã hội là gì và các khoa học xã hội có thực sự khoa học không
Ngược dòng lịch sử, người ta thấy rằng tên gọi sciences humaines (khoa học nhân văn) được hầu tước de Condorcet, vừa là kinh tế gia vừa là chính khách người Pháp (1743 - 1794) sử dụng lần đầu tiên trong tác phẩm Esquisse d'un t ble u stor que des pro rès de l'esprit humain2 được viết trong tù trong khoảng thời gian 1793-1794 trước khi tự sát. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện tên gọi đến khi được nhìn nhận là một ngành khoa học như ngày nay là một chặng đường dài: các khối ngành Khoa h xã hội và Khoa h n ân văn đã trải qua quá trình phát triển nhiều thế kỷ. Ở phương Tây, mặc dù truyền thống nghiên cứu trong hai lĩnh vực xã hội và nhân văn có từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng ngành nghiên cứu về hai lĩnh vực này chỉ được xem như là một khoa học từ giữa thế kỷ 19, khi các nhà nghiên cứu kế thừa những thành tựu về phương pháp nghiên cứu trong khoa học tự nhiên (KHTN). A. Comte (1798-1857), người được xem là cha đẻ của ngành xã hội học hiện đại, là người rất ngưỡng mộ khoa học tự nhiên và khoa học chính xác, đã phát hiện ra sự bất ổn của khuynh hướng văn chương đầy cảm tính của giới nghiên cứu xã hội – nhân văn thời bấy giờ. Ông ấp ủ hoài bão xây dựng ngành này thành một ngành khoa học đúng nghĩa, để xây dựng kiến thức khoa học về xã hội bằng một phương pháp luận chặt chẽ như các ngành KHTN. Tiếp bước A. Comte, các nhà xã hội học như M. Weber và E. Durkeim đã có những thành tựu to lớn trong việc áp dụng phương pháp khoa học để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của xã hội, góp phần phát triển mạnh mẽ ngành khoa học này vào đầu thế kỷ 20.

Theo điều tra chưa đầy đủ, ở Việt Nam, các thuật ngữ này xuất hiện khá muộn màng. Ở miền Bắc, vào năm 1956 có Khoa Khoa học Xã hội thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội3 ; năm 1967 thành lập Nhà xuất bản Khoa học Xã hội dựa trên cơ sở tách bộ phận xã hội nhân văn từ nhà xuất bản Khoa học4. Ở miền Nam trước năm 1975, có hai trường đại học có ngành đào tạo mang tên khoa h xã ội và khoa h c n ân văn : đó là Viện Đại học Cần Thơ, với i h c Luật khoa & Khoa h xã ội (gồm các chuyên ngành Luật và Kinh tế), Viện Đại học Vạn Hạnh với 2 trong số 5 khoa mang tên khoa Khoa h xã ội và k o Văn c & Khoa h n ân văn. Các trường còn lại đều dùng tên gọi truyền thống để chỉ các chuyên ngành đào tạo: i h c Khoa h c giảng dạy các ngành khoa học tự nhiên và chính xác như Toán, Lý, Hóa, Sinh; i h c Văn k o giảng dạy các ngành Văn, Sử Địa, Triết, Ngoại ngữ... Điều đó vô hình trung khiến thuật ngữ khoa học mặc nhiên được hiểu là khoa học tự nhiên và chính xác.